Di chúc là văn bản thể hiện ý chí của người có tài sản trước khi chết nhằm phân chia tài sản đó. Tuy nhiên, trong một số trường hợp di chúc bị thất lạc hoặc không biết có di chúc nên khi chia di sản xong thì mới phát hiện có di chúc xử lý thế nào? Hướng giải quyết chúng tôi sẽ nêu rõ trong bài viết sau đây.
Vì sao phải ưu tiên chia di sản theo di chúc?
Người lập di chúc là người sở hữu tài sản và mong muốn để lại tài sản của mình cho người khác sau khi qua đời.
Cụ thể, quyền của người lập di chúc được quy định tại Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 gồm:
- Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Từ những quy định trên đây thì việc chỉ định và phân chia di sản thừa kế hoàn toàn dựa vào ý chí của người lập di chúc (tức là người sở hữu tài sản). Pháp luật quy định rõ người lập di chúc có toàn quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết. Do đó, nếu di chúc hợp pháp di sản phải được ưu tiên phân chia theo di chúc.
Tuy nhiên, cần lưu ý một số trường hợp những người thừa kế được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
“a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”
Di chúc có hiệu lực khi nào? Hiệu lực pháp luật của di chúc?
Về thời điểm có hiệu lực của di chúc theo khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự quy định như sau:
“Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.”
Trong đó, theo khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Điều này đồng nghĩa với việc di chúc sẽ có hiệu lực tại thời điểm người để lại di chúc chết. Đối với di chúc chung của vợ chồng thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người thứ 02 chết sau cùng.
Kể từ thời điểm này, người thừa kế theo di chúc sẽ có quyền cũng như kế thừa các nghĩa vụ của người chết để lại.
Như vậy, di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế - thời điểm người để lại di chúc chết. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trước khi xác định di chúc có hiệu lực khi nào người thừa kế và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan cần xác định di chúc đó có hợp pháp hay không.
* Về hiệu lực pháp luật của di chúc được pháp luật quy định như sau:
Di chúc được coi là vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ, khi không đáp ứng được các điều kiện của di chúc hợp pháp kể cả về mặt hình thức hay nội dung của di chúc.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Toà án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên bố di chúc vô hiệu. Khi Toà án ban hành Quyết định hoặc Bản án có hiệu lực pháp luật tuyên bố di chúc vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ, thì phần nội dung di chúc không bị vô hiệu vẫn có hiệu lực thực hiện, nếu tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì toàn bộ tài sản thừa kế của người chết sẽ được phân chia theo pháp luật cho những người được thừa kế của người để lại di sản thừa kế.
Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp. Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc. Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.
Di chúc không có hiệu lực nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế. Nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần, thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
Khi di chúc có phần không hợp pháp, mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
Di chúc có hiệu lực trong bao nhiêu năm?
Theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định về thời hiệu thừa kế như sau.
“Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.”
Theo quy định này, người thừa kế có quyền yêu cầu chia thừa kế với tài sản là bất động sản trong thời hạn 30 năm.Với tài sản là động sản trong thời hạn 10 năm, kể từ khi người để lại di chúc chết. Hết thời hạn này thì di sản sẽ thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.
Có thể thấy, nếu di chúc để lại bất động sản, ví dụ như: nhà đất, tài sản gắn liền với đất cho người khác thì sẽ có thời hạn 30 năm để chia thừa kế, và nếu di chúc để lại động sản, ví dụ như: vàng, xe ô tô thì người thừa kế sẽ có thời hạn 10 năm để yêu cầu chia thừa kế.
Nếu hết thời hạn này mà có người thừa kế đang quản lý di sản, thì di sản sẽ thuộc về người quản lý. Nếu không còn người thừa kế thì di sản sẽ thuộc về người đang chiếm hữu; nếu không có người chiếm hữu thì di sản sẽ thuộc về Nhà nước.
Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
Hướng xử lý sau khi chia di sản xong mới phát hiện có di chúc
Trường hợp di chúc bị thất lạc, hư hại thì được xử lý theo Điều 642 Bộ luật Dân sự 2015 để xử lý kịp thời di sản được để lại.
Theo đó, kể từ thời điểm mở thừa kế nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc, thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.
Trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc.
Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc, thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu.
Từ đó, căn cứ theo quy định hiện hành trường hợp di chúc bị thất lạc, thì tài sản thừa kế sẽ được chia theo quy định pháp luật, trường hợp tìm lại được di chúc mà còn trong thời hạn yêu cầu chia di sản, thì sẽ chia lại theo nội dung của di chúc khi người thừa kế theo di chúc có yêu cầu.
Như vậy, trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu đáp ứng 02 điều kiện. Một là, còn trong thời hạn yêu cầu chia di sản thừa kế (như chúng tôi đã phân tích ở trên thì thời hạn đối với bất động sản là 30 năm, còn thời hạn đối với động sản là 10 năm). Hai là, có yêu cầu của người thừa kế theo di chúc. Quy định này nhằm thực hiện đúng ý chí của người để lại di chúc cũng như đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho người được hưởng thừa kế.
Tuy nhiên, trong trường hợp người được thừa kế theo di chúc, không có ý kiến gì đối với việc phân chia di sản thừa kế đã được thực hiện hoặc đã tự thỏa thuận được với những người thừa kế khác về việc phân chia di sản thừa kế, thì có thể lập văn bản thỏa thuận ghi nhận lại sự việc và không cần yêu cầu chia di sản lại theo di chúc. Mặt khác, nếu có tranh chấp mà còn trong thời hiệu yêu cầu phân chia di sản, thì người thừa kế theo di chúc có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu phân chia lại di sản thừa kế theo di chúc nhằm đảm quyền lợi cho mình.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Văn phòng 1: 15/50 Đoàn Như Hài, Phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.vn
Email: luatsucncvietnam@gmail.com