Thừa kế theo pháp luật là gì? Những trường hợp nào thì được áp dụng thừa kế theo pháp luật

15/50 Đoàn Như Hài, Phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Thừa kế theo pháp luật là gì? Những trường hợp nào thì được áp dụng thừa kế theo pháp luật
Ngày đăng: 04/08/2023

            Trong pháp luật dân sự, vấn đề thừa kế luôn là vấn đề phức tạp do xung đột quyền lợi của các bên và xuất phát từ đặc trưng là các bên tham gia quan hệ này đều có quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Chế định thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam từ Pháp lệnh thừa kế năm 1990 đến Bộ luật dân sự 2005 và mới đây nhất là Bộ luật dân sự 2015. Trong những năm gần đây số lượng các vụ tranh chấp về thừa kế luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các tranh chấp dân sự và có tính phức tạp. Hiện nay, trong Bộ luật dân sự 2015 chia thừa kế thành hai trường hợp: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Vậy, thừa kế theo pháp luật là gì và những trường hợp nào thì được áp dụng thừa kế theo pháp luật?

                Khái niệm thừa kế theo pháp luật được quy định tại Bộ luật dân sự 2015 như sau:

                "Điều 649. Thừa kế theo pháp luật:

                Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định."

                Đồng thời, Bộ luật dân sự 2015 cũng có quy định về những trường hợp sẽ thừa kế theo pháp luật như sau: 

                "Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

                1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

                a) Không có di chúc;

                b) Di chúc không hợp pháp;

             c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

               d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

                2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

                a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

                b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

               c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế."

                Như vậy, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

    1. Trong trường hợp không có di chúc.

    Những trường hợp sau đây được coi là không có di chúc:

    - Khi người để lại di sản chết mà không lập di chúc hoặc có lập nhưng chính họ lại tiêu huỷ di chúc đã lập.

               - Người để lại di sản có để lại di chúc nhưng kể từ thời điểm mở thừa kế di chúc đã bị thất lạc hoặc đã bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người để lại di sản và cũng không thể chứng minh được ý nguyện đích thực của người để lại di sản. 

    Trong trường hợp này toàn bộ di sản được phân chia cho những người thừa kế theo pháp luật.

    1. Trường hợp có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp

    "Điều 630. Di chúc hợp pháp

    1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

    b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

    2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

    3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

    4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

    5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng."

    Một di chúc được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện đã được quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự 2015. Đó là:

    - Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

    - Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

    Đồng thời, di chúc không vi phạm một trong các điều kiện về di chúc hợp pháp tại Điều 630 Bộ luật dân sự như đã nêu trên thì di chúc sẽ không có hiệu lực.

    1. Áp dụng phần thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản không định đoạt trong di chúc

    Đây là trường hợp người để lại di sản có lập di chúc, nhưng di chúc chỉ định đoạt một phần di sản thì phần còn lại sẽ được chuyển dịch cho những người thừa kế theo pháp luật. Điều này có thể xảy ra bởi vì, từ thời điểm người để lại di sản lập di chúc đến thời điểm người đó chết là một khoảng thời gian dài. Trong khoảng thời gian này, tài sản của người lập di chúc có thể phát sinh và do đó, không được người để lại di sản định đoạt trong di chúc. Về nguyên tắc, chỉ có thể chia thừa kế theo di chúc đúng với ý nguyện của người lập di chúc. Do đó, những tài sản phát sinh không được đề cập trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật. Vì vậy, có thể xảy ra khả năng một người dù đã được hưởng di sản theo di chúc, vẫn được hưởng phần di sản được chia theo luật, nếu họ là người đứng trong hàng thừa kế được hưởng di sản theo pháp luật (trừ trường hợp người lập di chúc đã nói rõ là họ chỉ được hưởng phần di sản mà người lập di chúc đã phân định trong di chúc đó).

    1. Người thừa kế theo di chúc chết hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế.

    "Điều 613. Người thừa kế

    Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế."

    Điều kiện để người thừa kế được hưởng di sản đã được quy định tại Điều 613 Bộ luật dân sự năm 2015, là cá nhân phải còn sống phải thời điểm mở thừa kế, hoặc đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế, cơ quan, tổ chức phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Vì vậy, nếu người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, các cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, thì phần di sản của người để lại di chúc chia cho người thừa kế đó theo di chúc sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản.

    1. Người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng thừa kế.

    Những người đáng lẽ được hưởng thừa kế theo di chúc nhưng lại thực hiện những hành vi như cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, ngược đãi, hành hạ người để lại di sản, cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác mà đã bị kết án, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng; hoặc lừa dối, cưỡng ép, giả mạo, sửa chữa di chúc sẽ không được hưởng thừa kế mà người lập di chúc không biết những hành vi đó, thì phần di sản chia cho người thừa kế có những hành vi nói trên chia theo pháp luật.

    1. Người thừa kế theo di chúc từ chối quyền hưởng di sản.

    Nếu việc từ chối quyền hưởng di sản trong hạn Bộ luật dân sự năm 2015 quy định, thì phần di sản liên quan đến người từ chối hưởng di sản thừa kế theo di chúc sẽ được chia thừa kế theo pháp luật.

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới